Nông lâm thuỷ sản đặt mục tiêu xuất khẩu 74 tỷ USD trong năm 2026

Thông tin tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra vào chiều 6/1/2026, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết năm 2025, toàn ngành đã đạt được những kết quả rất tích cực, đặc biệt là xuất khẩu, không chỉ lập kỷ lục mới, vượt qua ngưỡng 70 tỷ USD, mà xuất siêu cũng lập kỷ lục trên 20 tỷ USD.

TRUNG QUỐC LÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ LỚN NHẤT

Năm 2025, giá trị xuất khẩu nhóm các mặt hàng nông sản đạt 37,25 tỷ USD, tăng 13,7% so với năm 2024; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 627,8 triệu USD, tăng 17,4%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 18,5 tỷ USD, tăng 6,6% so với năm 2024.

Quang cảnh họp báo. Ảnh: Chu Khôi.

Quang cảnh họp báo. Ảnh: Chu Khôi.

Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam với thị phần chiếm 45,2%. Hai thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 22,8% và 13,2%. Thị phần của khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,7% và 1,4%. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam cả năm 2025 sang khu vực châu Á tăng 5,8%; châu Mỹ tăng 7,2%; châu Âu tăng 34,2%; châu Phi tăng 68,1%; và châu Đại Dương tăng 9%.

Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 22,3%, Hoa Kỳ với thị phần 20,6%, và Nhật Bản với thị phần 7,1%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam cả năm 2025 sang thị trường Trung Quốc tăng 15,9%, Hoa Kỳ tăng 5,4%, và Nhật Bản tăng 20,5%.

Ông Trần Gia Long:

Ông Trần Gia Long: "Xuất khẩu cà phê cả năm 2025 đạt 1,5 triệu tấn và 8,57 tỷ USD". Ảnh: Chu Khôi.

Thông tin cụ thể về từng mặt hàng, ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch- Tài chính thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết xuất khẩu gạo tháng 12/2025 ước đạt 320 nghìn tấn với giá trị đạt 166,2 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo cả năm 2025 đạt 7,9 triệu tấn và 4,02 tỷ USD, giảm 13,1% về khối lượng và giảm 29,1% về giá trị so với năm trước. Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 38,5%. Gana và Bờ Biển Ngà là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 12,7% và 11,7%.

Xuất khẩu cao su tháng 12/2025 ước đạt 200 nghìn tấn với giá trị đạt 337,1 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cao su cả năm 2025 đạt 1,9 triệu tấn và 3,25 tỷ USD, giảm 7,4% về khối lượng và giảm 5% về giá trị so với năm trước. Trung Quốc là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 72,7%. Hai thị trường lớn tiếp theo là Ấn Độ và Indo có thị phần lần lượt là 4,6% và 2,6%.

XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VÀ RAU QUẢ TĂNG TRƯỞNG MẠNH

Xuất khẩu cà phê tháng 12/2025 ước đạt 120 nghìn tấn với giá trị đạt 633,1 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê cả năm 2025 đạt 1,5 triệu tấn và 8,57 tỷ USD, tăng 13,1% về khối lượng và tăng 52,5% về giá trị so với năm trước. Giá cà phê xuất khẩu bình quân cả năm 2025 ước đạt 5630,5 USD/tấn, tăng 34,8% so với năm trước.

Giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 12/2025 ước đạt 800 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng rau quả cả năm 2025 đạt 8,56 tỷ USD, tăng 19,8% so với năm trước. Mặt hàng rau quả của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc với tỷ trọng giá trị xuất khẩu chiếm 64,2%. Hai thị trường xuất khẩu rau quả lớn tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc với tỷ trọng giá trị xuất khẩu lần lượt là 6,4% và 3,7%.

Xuất khẩu hạt điều tháng 12/2025 ước đạt 65 nghìn tấn với giá trị đạt 440,9 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu hạt điều cả năm 2025 đạt 761,9 nghìn tấn và 5,19 tỷ USD, tăng 5% về khối lượng và tăng 19,6% về giá trị so với năm trước. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân cả năm 2025 ước đạt 6816.9 USD/tấn, tăng 13,9% so với năm trước. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan là 3 thị trường tiêu thụ hạt điều lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 21,6%, 18,7% và 9,5%. 

Xuất khẩu hạt tiêu tháng 12/2025 ước đạt 20 nghìn tấn với giá trị đạt 131,6 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu hạt tiêu cả năm 2025 đạt 243,2 nghìn tấn và 1,64 tỷ USD, giảm 2,6% về khối lượng nhưng tăng 24,9% về giá trị so với năm trước. Giá hạt tiêu xuất khẩu bình quân cả năm 2025 ước đạt 6749,7 USD/tấn, tăng 28,3% so với năm trước. Hoa Kỳ, Đức và Ấn Độ là 3 thị trường tiêu thụ hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 24,7%, 7,6% và 4,9%.  

NHIỀU GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU TRONG NĂM 2026

Đối với ngành hàng thủy sản và lâm sản, đều tăng trưởng mạnh. Giá trị xuất khẩu hàng thủy sản tháng 12/2025 ước đạt 1 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng thủy sản cả năm 2025 đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm trước. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là 3 thị trường tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 20,1%, 17,3% và 15,1%.

Giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 12/2025 ước đạt 1,8 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cả năm 2025 đạt 17,32 tỷ USD, tăng 6,4% so với năm trước. Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 55,5%. Nhật Bản và Trung Quốc là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 12,6% và 11,7%. 

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến:

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: "Năm 2026, toàn ngành phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD". Ảnh: Chu Khôi.

Phát biểu tại buổi họp báo, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết mục tiêu năm 2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế - xã hội đất nước. Toàn ngành phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nông sản khoảng 40 tỷ USD (tăng 7,2%), các mặt hàng thủy sản khoảng 12 tỷ USD (tăng 7,6%), lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD (tăng 3,6%).

Để tạo bứt phá về giá trị xuất khẩu trong năm 2026, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung vào các nhóm giải pháp theo chuỗi “vùng nguyên liệu - tiêu chuẩn - chế biến - logistics - thị trường”.

Thứ nhất: Chuẩn hóa vùng nguyên liệu theo “đơn hàng thị trường”. Mở rộng mã số vùng trồng/ao nuôi, quản lý chất lượng đầu vào, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc; tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn (GAP, hữu cơ, bền vững), giảm rủi ro cảnh báo và trả hàng.

Thứ hai: Đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm. Ưu tiên đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản, đóng gói; phát triển sản phẩm tinh chế/tiện lợi/ready-to-eat; tận dụng phụ phẩm để tạo chuỗi giá trị mới (thức ăn, vật liệu sinh học, chiết xuất…)

Thứ ba: Giảm “chi phí logistics” để tăng biên giá trị. Phát triển kho lạnh, chuỗi lạnh, trung tâm logistics vùng; tối ưu vận tải, cửa khẩu/cảng; chuẩn hóa quy trình số để rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí tuân thủ.

Thứ tư: Nâng cấp năng lực tiếp cận thị trường và thương hiệu quốc gia. Đẩy mạnh đàm phán mở cửa thị trường, xử lý rào cản SPS/TBT; xây dựng thương hiệu ngành hàng, chỉ dẫn địa lý, marketing theo phân khúc; chuyển mạnh từ bán “nguyên liệu” sang bán “sản phẩm có câu chuyện, có chuẩn”.

Thứ năm: Chuyển đổi xanh để vào phân khúc giá cao. Đo lường/giảm dấu chân carbon, chứng nhận bền vững; thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn và sản xuất phát thải thấp, đây là “giấy thông hành” vào các thị trường, chuỗi bán lẻ cao cấp.

Nguồn: TBKTVN